THAI NHI CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ DI SẢN?

Trong các vụ việc về thừa kế tài sản, không ít trường hợp người để lại di sản qua đời khi vợ đang mang thai. Điều này làm phát sinh câu hỏi: Thai nhi chưa được sinh ra có được pháp luật công nhận quyền hưởng di sản thừa kế hay không?

1. CĂN CỨ PHÁP LÝ

Căn cứ Điều 613 Bộ luật Dân sự năm quy định về người thừa kế:

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Như vậy, pháp luật Việt Nam công nhận thai nhi là người có quyền hưởng di sản thừa kế trong trường hợp đã thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết và được sinh ra còn sống.

Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho trẻ em và hạn chế những tranh chấp phát sinh trong quá trình phân chia tài sản thừa kế.

2.  ĐIỀU KIỆN ĐỂ THAI NHI ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ

Để thai nhi được xác định là người thừa kế theo quy định pháp luật thì cần đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau:

 2.1. Thai nhi phải được thành thai trước thời điểm mở thừa kế

  • Căn cứ khoản 1 Điều 611 về thời điểm mở thừa kế:

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

  • Thời điểm mở thừa kế được xác định là thời điểm người để lại tài sản chết.
  • Nếu người mẹ đã mang thai trước thời điểm này thì thai nhi được xem là thuộc diện có quyền hưởng thừa kế.
  • Ngược lại, nếu việc mang thai xảy ra sau khi người để lại di sản chết thì thai nhi sẽ không được công nhận là người thừa kế.

2.2. Thai nhi phải sinh ra và còn sống

Đây là điều kiện bắt buộc để quyền hưởng thừa kế chính thức phát sinh.

Trong trường hợp thai nhi không đáp ứng 1 trong 2 điều kiện này thì phần di sản dự kiến dành cho thai nhi sẽ được chia lại cho người thừa kế khác theo quy định pháp luật.

3.  THAI NHI ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ THEO NHỮNG HÌNH THỨC NÀO?

3.1. Hưởng thừa kế theo di chúc

  • Trường hợp di chúc hợp pháp có quy định về việc để lại di sản cho thai nhi hoặc người con chưa được sinh ra thì việc phân chia di sản phải được thực hiện theo đúng ý chí của người lập di chúc. 
  • Trường hợp di chúc hợp pháp không quy định về việc để lại di sản cho thai nhi hoặc người con chưa được sinh ra thì phân chia di sản được áp dụng theo quy định của pháp luật về người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm như sau:

Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

3.2. Hưởng thừa kế theo pháp luật

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm, trong trường hợp người chết không để lại di chúc thì di sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật. Khi đó, những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật sẽ được hưởng phần di sản tương ứng theo quy định. 

Căn cứ Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật:

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền 

Việc phân chia di sản theo pháp luật của thai nhi được quy định tại khoản 1 Điều 660 Bộ luật Dân sự:

Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì khi phân chia di sản thừa kế sẽ áp dụng quy định về Thừa kế thế vị tại Điều 652 Bộ luật Dân sự:

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. 

Như vậy, con chưa sinh ra, thai nhi đã thành thai trước khi người để lại di sản chết vẫn có quyền được hưởng di sản thừa kế. Căn cứ vào từng trường hợp mà con chưa sinh ra, thai nhi có thể sẽ được thừa kế phần di sản theo nội dung di chúc, được thừa kế 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật hoặc được thừa kế phần di sản bằng với những người cùng hàng thừa kế khác theo quy định.

4. KẾT LUẬN

Thai nhi hoàn toàn có thể được hưởng di sản thừa kế nếu đã thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết và được sinh ra còn sống. Đây là quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em cũng như bảo đảm sự công bằng trong quan hệ thừa kế.

Việc hiểu rõ quy định này sẽ giúp các cá nhân và gia đình thực hiện đúng quy định pháp luật, hạn chế tranh chấp và bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

————————————————————————————————————————————————

Hãy liên hệ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời:

☎️ LS.Quãng: 0932.571.339 – LS.Ân: 0905.999.655
📍 Văn phòng Công ty tại Đà Nẵng
83 TRẦN XUÂN LÊ, THANH KHÊ, ĐÀ NẴNG
📍 Hoạt động tại Quảng Nam
📞 0905.99.96.55
📍 Hoạt động tại Huế
📞 0932.57.13.39
📍 Hoạt động tại Quảng Bình
📞 0971.319.894
Trân trọng!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *