Trong bối cảnh các giao dịch dân sự ngày càng được thực hiện nhanh chóng qua nền tảng số, việc mượn tiền thông qua tin nhắn điện thoại hoặc các ứng dụng như Messenger, Zalo đã trở nên phổ biến. Tuy nhiên, sự tiện lợi này cũng kéo theo nhiều rủi ro pháp lý, đặc biệt khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận. Không ít trường hợp người cho vay lúng túng vì cho rằng “không có giấy tờ thì không thể đòi”, dẫn đến việc bỏ qua quyền lợi hợp pháp của mình. Trên thực tế, pháp luật vẫn có cơ chế ghi nhận và bảo vệ các giao dịch được xác lập dưới dạng dữ liệu điện tử, nhưng việc chứng minh và xử lý tranh chấp lại đặt ra nhiều vấn đề cần phân tích. Bài viết này sẽ làm rõ giá trị pháp lý của tin nhắn trong quan hệ vay tài sản, cũng như hướng tiếp cận để bảo vệ quyền lợi của các bên khi xảy ra tranh chấp.
1. Quy định của pháp luật về hợp đồng mượn tài sản.
Theo quy định tại Điều 494 BLDS 2015 thì hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.
Hợp đồng mượn tài sản được coi là một giao dịch dân sự, hình thức của giao dịch dân sự có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
Như vậy, hợp đồng mượn tiền thuộc trường hợp không bắt buộc phải lập thành văn bản. Theo đó, hành vi nhắn tin mượn tiền cũng được coi là hợp đồng mượn tài sản.
Bên mượn tiền có nghĩa vụ trả tiền theo đúng thời hạn đã thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn trả thì người mượn tiền phải trả ngay cho người cho mượn khi mục đích mượn đã đạt được.
Trường hợp, bên mượn tiền vi phạm thời hạn trả nợ, bên cho mượn có thể khởi kiện yêu cầu trả nợ.
2. Hồ sơ khởi kiện.
Để được Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện, người cho mượn có thể chuẩn bị đầy đủ các giấy tờ dưới đây để khởi kiện:
Đơn khởi kiện. Trong đơn, nêu rõ trường hợp và thỏa thuận cho mượn tiền cũng như có đề cập đến việc mượn tiền được thực hiện thông qua tin nhắn, thời hạn trả nợ (nếu có)…;
Những tin nhắn chứa nội dung thỏa thuận về việc mượn tiền. Thông thường, hiện nay, người mượn tiền thường sẽ lập vi bằng cho những tin nhắn này. Nếu không, người mượn tiền hoàn toàn có thể in ra hoặc nén trong đĩa, DVD… để lưu trữ tin nhắn mượn tiền, thuận lợi cho việc nộp cho Tòa án;
Giấy tờ tùy thân (bản sao): Giấy tờ tùy thân của bản thân người cho mượn và của người mượn tiền (nếu có) gồm Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/hộ chiếu còn hạn sử dụng…;
Các tài liệu, giấy tờ khác (nếu có).
Hãy liên hệ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời:

