QUAN HỆ VỢ CHỒNG VẪN ĐƯỢC CÔNG NHẬN DÙ CHƯA ĐĂNG KÝ KẾT HÔN?

QUAN HỆ VỢ CHỒNG VẪN ĐƯỢC CÔNG NHẬN DÙ CHƯA ĐĂNG KÝ KẾT HÔN?

Thực tế, pháp luật Việt Nam không phải trong mọi trường hợp đều phủ nhận hoàn toàn quan hệ hôn nhân khi chưa đăng ký kết hôn. Tùy từng thời điểm xác lập quan hệ và từng hoàn cảnh cụ thể, quan hệ vợ chồng vẫn có thể được pháp luật công nhận và bảo vệ. Việc hiểu đúng các quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đặc biệt là con chung và tài sản hình thành trong thời gian chung sống.

1. Hôn nhân thực tế là gì?

Hôn nhân thực tế là trường hợp nam nữ chung sống với nhau và thỏa mãn những điều kiện theo quy định của pháp luật nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận hôn nhân hợp pháp, được giải quyết quyền, lợi ích và nghĩa vụ như hôn nhân hợp pháp. Đây là một thuật ngữ pháp lý để chỉ những trường hợp hai bên nam nữ chung sống trong quan hệ vợ chồng, đã được gia đình, xã hội thừa nhận nhưng chưa được đăng ký tại cơ quan hộ tịch, chưa được cấp giấy chứng nhận kết hôn.

2. Quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987

Căn cứ điểm a khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 “về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình”, quy định:

“Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”

Căn cứ khoản 1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, quy định:

“Theo quy định tại điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội, trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà chưa đăng ký kết hôn, nếu một bên hoặc cả hai bên có yêu cầu ly hôn, thì Toà án thụ lý vụ án và áp dụng quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Cần chú ý là trong trường hợp sau khi quan hệ vợ chồng đã được xác lập họ mới thực hiện việc đăng ký kết hôn, thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được công nhận kể từ ngày xác lập (ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng), chứ không phải là chỉ được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn.”

==> Như vậy, chỉ cần chứng minh có sống chung với nhau như vợ chồng hoặc có các điều kiện nêu trên thì quan hệ vợ chồng xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn đương nhiên được công nhận là vợ chồng trên thực tế và được xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thực tế.

3. Sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001

Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 “về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình”, quy định:

“Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;”

Căn cứ khoản 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

“Đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 trở đi đến trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà có đủ điều kiện kết hôn, nhưng chưa đăng ký kết hôn và đang chung sống với nhau như vợ chồng, thì theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35 của Quốc hội họ có nghĩa vụ đăng ký kết hôn kể từ ngày 01/01/2001 cho đến ngày 01/01/2003”

==> Như vậy, trong trường hợp chung sống như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 để trước ngày 01/01/2001 thì buộc phải thực hiện việc đăng ký kết hôn trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2001 đến 01/01/2003. Sau ngày 01/01/2003 mà không đằn ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

4. Làm thế nào để xác định nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng?

Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn khái niệm chung sống như vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, có thể tham khảo quy định tại điểm d khoản 2 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

Được coi nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;

– Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;

– Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;

– Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Thời điểm nam và nữ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng là ngày họ tổ chức lễ cưới hoặc ngày họ về chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận hoặc ngày họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến hoặc ngày họ thực sự bắt đầu chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

————————————————————————————————————————————————

Hãy liên hệ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời:

☎️ LS.Quãng: 0932.571.339 – LS.Ân: 0905.999.655
📍 Văn phòng Công ty tại Đà Nẵng
83 TRẦN XUÂN LÊ, THANH KHÊ, ĐÀ NẴNG
📍 Hoạt động tại Quảng Nam
📞 0905.99.96.55
📍 Hoạt động tại Huế
📞 0932.57.13.39
📍 Hoạt động tại Quảng Bình
📞 0971.319.894

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *