TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG NHƯNG CHỈ CÓ MỘT BÊN KÝ HỢP ĐỒNG CÓ BỊ VÔ HIỆU KHÔNG?

TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG NHƯNG CHỈ CÓ MỘT BÊN KÝ HỢP ĐỒNG CÓ BỊ VÔ HIỆU KHÔNG?

Trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng thường được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, kinh doanh hoặc thực hiện các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, trên thực tế không ít trường hợp chỉ một bên vợ hoặc chồng đứng ra ký kết hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp tài sản chung. Vậy những hợp đồng này có bị vô hiệu hay không?

1. Nguyên tắc định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Theo khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung.

Bên cạnh đó, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc định đoạt tài sản chung phải do vợ chồng thỏa thuận. Đối với bất động sản, việc định đoạt phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng.

Như vậy, khi chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp bất động sản là tài sản chung thì nguyên tắc chung là phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng.

2. Chỉ một người ký hợp đồng thì hợp đồng có vô hiệu không?

Tại khoản 15 Mục III Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn:

Trường hợp bất động sản là tài sản chung của vợ chồng nhưng chỉ có một bên vợ hoặc chồng tham gia ký kết hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp; người còn lại không tham gia ký kết và cũng không đồng ý với giao dịch đó, trong khi các điều kiện có hiệu lực khác của hợp đồng đều được bảo đảm, thì hợp đồng vẫn bị xác định là vô hiệu toàn bộ.

Lý do là việc định đoạt tài sản chung đã không tuân thủ quy định về sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Căn cứ pháp lý xác định hợp đồng vô hiệu

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015:

  • Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.
  • Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung.

Đồng thời, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu việc định đoạt bất động sản là tài sản chung phải có sự đồng ý bằng văn bản của cả vợ và chồng.

Do đó, nếu một bên tự ý chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp bất động sản chung mà không được người còn lại đồng ý thì giao dịch sẽ không đáp ứng điều kiện pháp luật về chủ thể có quyền định đoạt tài sản.

4. Trường hợp nào hợp đồng vẫn được công nhận?

Mặc dù nguyên tắc chung là hợp đồng sẽ bị vô hiệu toàn bộ, nhưng thực tiễn xét xử vẫn ghi nhận một số trường hợp ngoại lệ.

Theo Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nếu có đủ căn cứ chứng minh:

  • Bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận;
  • Người không ký hợp đồng biết việc chuyển nhượng;
  • Người này cùng sử dụng số tiền chuyển nhượng;
  • Bên nhận chuyển nhượng đã nhận, quản lý và sử dụng nhà đất công khai;
  • Người không ký hợp đồng biết nhưng không phản đối trong một thời gian dài;

thì có thể xác định người đó đã đồng ý với việc chuyển nhượng tài sản.

Trong trường hợp này, giao dịch có thể được Tòa án công nhận hiệu lực dù chỉ có một người đứng tên ký kết hợp đồng.

5. Kết luận

Đối với bất động sản là tài sản chung của vợ chồng, việc chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp phải có sự đồng ý của cả hai bên theo quy định của pháp luật.

Nếu chỉ một người tự ý ký kết hợp đồng mà người còn lại không đồng ý thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu toàn bộ.

————————————————————————————————————————————————————————

Hãy liên hệ để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời:

☎️ LS.Quãng: 0932.571.339 – LS.Ân: 0905.999.655
📍 Văn phòng Công ty tại Đà Nẵng
83 TRẦN XUÂN LÊ, THANH KHÊ, ĐÀ NẴNG
📍 Hoạt động tại Quảng Nam
 0905.99.96.55
📍 Hoạt động tại Huế
 0932.57.13.39
📍 Hoạt động tại Quảng Bình
0971.319.894
Trân trọng!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *